KINH XÁNG XÀ NO - CON ĐƯỜNG
LÚA GẠO MIỀN HẬU GIANG
(Đăng Báo Sài Gòn Giải phóng ngày 19/11/2009)
*Trịnh Quang Hưng (Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang)

Miền Hậu Giang - theo các tư liệu xưa, đó là một dãy đất đồng bằng mênh mông ở về phía hữu ngạn con Sông Hậu, chạy dài đến chót mũi Cà Mau. Với diện tích khoảng 2 triệu ha, chiếm 1/3 toàn Nam Kỳ, miền Hậu Giang có thể chia làm 2 khu vực địa lý: Một là dãy đất phù sa cao ráo từ Châu Đốc đến Long Xuyên và phần lớn địa hạt Cần Thơ cùng với Sóc Trăng. Hai là dãy đất trũng, phèn, mặn ảnh hưởng thủy triều vùng biển Xiêm La, thuộc phần đất Rạch Giá, một phần Cần Thơ và phần lớn diện tích vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu và bán đảo Cà Mau. Tỉnh Hậu Giang nằm trong địa bàn này.
Gọi miền Hậu Giang - có lẽ do thời xưa khi công cuộc mở mang, khai phá mang lại hiệu quả, đời sống kinh tế- xã hội phát triển nhanh chóng đã tạo nên một dấu ấn đặc biệt, khiến cho giá trị vùng đất- con người miền Hậu Giang được khẳng định, lâu dần trở thành địa danh dân gian quen thuộc. Ngay tại Sài Gòn, đã có một đường phố lớn tại Quận 6 mang tên “Hậu Giang”, tồn tại hơn nửa thế kỷ qua.
Ngày nay, cụm từ “Miền Hậu Giang” chỉ còn trong ký ức lớp người cao tuổi. Từ bối cảnh mới, tình hình mới về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,.. Các nhà hoạch định chiến lược đã dịch chuyển từ khái niệm “Miền Hậu Giang” thành “Tây Sông Hậu”, vẫn trên khung nền địa lý trước đây. Đặc biệt những năm qua, trong các quy hoạch kinh tế- xã hội khu vực ĐBSCL, xuất hiện một khái niệm chỉ về một địa bàn mới: “Tiểu vùng Tây Sông Hậu”, bao gồm phần đất hữu ngạn sông Hậu và một phần các tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau. Tỉnh Hậu Giang được xem như một trung tâm của Tiểu vùng, bởi vị trí địa lý chính giữa, cũng là địa bàn ôm gọn con kinh xáng Xà No, một công trình thủy nông và thủy lộ chiến lược tác động đến cả tiểu vùng, là một trong các kinh đầu tiên được đào bằng xáng ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX.
Khi người Pháp đặt chế độ thuộc địa (1867) cũng là lúc Nam Kỳ - miền Hậu Giang bắt đầu thu hoạch thành quả từ chủ trương “khẩn hoang, lập ấp, lập đồn điền” của Triều Nguyễn. Tính trong toàn bộ 2 triệu ha miền Hậu Giang - ngoài vùng hữu ngạn dọc theo sông Hậu Châu Đốc, Long Xuyên và Hà Tiên… cơ bản khai phá xong, phía cánh đồng rộng, lớn hoang vu giữa Cần Thơ- Rạch Giá (bao gồm tỉnh Hậu Giang và phần lớn tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau hôm nay) đã đưa vào sản xuất gần 300 ngàn mẩu, với mức sản lượng gần bằng phân nửa Nam Kỳ (200/500 ngàn mẩu). Dân cư miền Hậu Giang lúc này chưa đông, diện tích lại rộng lớn nên lúa gạo dư thừa. Vì vậy, đã góp phần cung ứng cho cả nước và vùng Nam Kỳ xuất cảng đến 500 ngàn tấn lúa gạo vào năm 1898.
Người Pháp đã nhận ra tiềm năng, nguồn lợi dồi dào của miền Hậu Giang, với tầm nhìn: Nơi đây mới chính là vựa lúa lớn của Đông Dương. Do đó sau khi ổn định việc cai trị, tiến hành các đợt thám sát phần đất hoang vu, chính quyền Pháp đã lên kế hoạch khá chu đáo nhằm khai thác lớn các cánh đồng mênh mông còn ngập nước, nhiễm phèn, mặn ở miền Hậu Giang, với 3 kế hoạch thực thi một cách táo bạo:
Đào kinh, lập chợ phố, đắp lộ xe. Tất nhiên, việc đào kinh xem như then chốt. Ngay từ năm 1893, toàn quyền Đông Dương Pall Doumer tổ chức đấu thầu tại Paris, Công ty montvenoux trúng thầu. Từ mùa khô 1901, kế hoạch đào kinh xáng Xà No được thực thi với tốc độ khẩn trương, nhưng hết sức qui mô, hiện đại. Theo đó họ huy động với 4 chiếc xáng lớn gồm Mỹ Tho I, Mỹ Tho II, Xáng Loire, Xáng Nantes. Mỗi chiếc 350 mã lực, chạy bằng hơi nước đốt nồi súp de. Phục vụ việc đào kinh có cả ngàn kỹ sư, chuyên viên, nhân viên y tế, hậu cần và nhân công làm việc. Họ vừa ở các nhà bè xáng dòng theo; vừa ở trên bờ lo củi chụm. Đến tháng 7-1903, việc thi công hoàn tất, kinh dài đến 34 cây số, nối một mạch thẳng tắp từ Vàm Xáng Rạch Cần Thơ, một nhánh của Sông Hậu cho đến ngọn rạch Cái Tư, một nhánh của sông Cái Lớn. Phần kinh trên đất Cần Thơ 12 cây số; phần kinh trên đất Rạch Giá 22 cây số. Tổng phí tổn là 3 triệu 680 ngàn quan Pháp. Xem như, đây là một thành công đặc biệt của người Pháp ở bước khởi đầu công cuộc khai thác bằng cơ giới. Bởi nhìn lại công cuộc đào kinh Vĩnh Tế bằng thủ công, phải huy động đến 80.000 người trong 5 năm mới hoàn thành. Do vậy, ngày lễ khánh thành kinh xáng Xà No tổ chức thật lớn. Lần đầu tiên có cả toàn quyền Đông Dương chịu đặt chân đến dự, cùng với nhiều quan chức các tỉnh và địa phương.
Để phát huy tác dụng kinh xáng Xà No, sau này người Pháp tiếp tục cho đào những con kinh sườn, sâu vô cánh đồng, cứ cách 500 mét, đào một con kinh nhỏ; cách 1.000 mét đào kinh lớn hơn (ngày nay có các địa danh Một Ngàn, Bảy Ngàn,Tám Ngàn,.... thuộc huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang). . Cách đào theo lối “xôm lươn” như dân gian thường nói, nghĩa là con kinh bờ bên này không giao nhau với con kinh bờ bên kia, mà lệch xa cách khoảng nên không thành ngã tư - giao điểm. Đây cũng là một kỹ thuật “thủy nông” được tính toán chú đáo nhằm điều tiết dòng chảy đưa nước vào đồng ruộng hoặc tháo nước ra một cách điều hòa.
Như nhà văn Sơn Nam nhận xét, việc đào kinh xáng Xà No nối Cần Thơ - Rạch Giá, có thể gọi là “quả đấm chiến lược” về kinh tế và chính trị đối với người Pháp, bởi nó vừa biểu dương sức mạnh cơ khí của phương Tây; vừa mở ra một triển vọng mới trong công cuộc hình thành vựa lúa miền Hậu Giang.
Đến năm 1910, ngoài những “điền Tây” có thêm nhiều làng mới hình thành, thu hút đông đảo dân cư về lập nghiệp, góp phần cho diện tích, sản lượng lúa tỉnh Cần Thơ - Rạch Giá tăng vọt: Tỉnh Rạch Giá với 142 ngàn mẩu, so với năm 1894 mới có 100 ngàn mẩu. Tỉnh Cần Thơ lên đến 171 ngàn mẩu, so năm 1894, mới 98 ngàn mẩu cao điểm đến năm 1930, Rạch Giá trở thành tỉnh đứng đầu Nam Kỳ về diện tích, sản lượng; với 319 ngàn mẩu và 344 ngàn tấn lúa. Đáng kể là trước khi đào kinh Xà No, dân số tỉnh Rạch Giá khoảng 90 ngàn người, đến năm 1930 tăng dến 338 ngàn người, cao gấp 10 lần so với khi người Pháp mới đến (1867). Chỉ 4 năm sau khi đào kinh Xáng Xà No, chính quyền Pháp lập thêm 3 huyện mới trong tỉnh Rạch Gía là Long Mỹ, Gò Quao, Giồng Riềng. Quận Châu Thành Cần Thơ ngày càng phát triển với quận lỵ là chợ Cái Răng vừa cận kề tỉnh lỵ; vừa là điểm đón đầu ghe, tàu từ kinh Xáng Xà No lên.
Lúa gạo có giá, kích thích giới địa chủ, nông dân các tỉnh lân cận, nhanh chóng khai khẩn đất tiếp sau việc đào các con kinh. Lúa gạo miền Hậu Giang càng gia tăng sản lượng. Năm 1908 toàn Nam Kỳ xuất cảng được 1 triệu 300 ngàn tấn; miền Hậu Giang chiếm đến 900 ngàn tấn. Với số lượng khổng lồ như vậy, miền Hậu Giang nói chung và riêng các tỉnh Rạch Gía, Cần Thơ, Bạc Liêu… đã trở thành trung tâm sản xuất lúa gạo; một vựa lúa thật sự của cả Đông Dương.
Từ kinh xáng Xà No, các “điền Tây” hoặc chính quyền các địa phương tiếp tục đào nối nhiều kinh khác, sâu vô các làng mới nên lúa gạo vận chuyển lưu thông dể dàng khi mua bán. Nổi bật là việc hình thành trung tâm chế biến, xay xát lúa gạo ở chợ Cái Răng - đầu cầu của kinh xáng Xà No, góp phần kích thích sản xuất, lưu thông tập trung lúa gạo về một đầu mối để xay xát rồi đưa lên Chợ Lớn xuất cảng. Tại chợ Cái Răng, từ thập niên đầu của thế kỷ XX, sinh hoạt giao thương các mặt đã nhộn nhịp, phố xá sung túc. Ngành công nghiệp xay xát lúa gạo ra đời đúng vào lúc kinh xáng Xà No mang lại kết quả khả quan. Tại đây, bên cạnh hàng chục nhà máy xay công suất lớn còn có nhiều chành, vựa khổng lồ, có chành chứa đến 100 ngàn giạ lúa. Ngoài ra, các chủ nhà máy, chủ chành còn tổ chức hàng trăm ghe chài, ghe tam bản đi mua gom lúa gạo tận xóm ấp xa xôi.
“Con đường lúa gạo” – kinh xáng Xà No còn khởi phát các giá trị mới
về văn hóa - văn minh: Dân cư thích sống tập trung dọc theo hai bờ kinh xáng. Người lắm tiền cố mua cho được đất bờ xáng để làm vườn, cất nhà ở. Lâu dần “đất bờ xáng” có gía trị nhất vì cao ráo, ngay mặt tiền, dễ trồng trọt. Kinh xáng Xà No tấp nập xuồng ghe, dân cư đông đúc là điều kiện để nghề thương hồ phát triển, dần hình thành chợ nổi Cái Răng. Ngoài ra, còn có nhiều làn điệu dân ca đặc sắc được hình thành, mang chủ đề kênh xáng! Phải chăng, kinh xáng Xà No đã góp phần tạo nên tính cách “người kinh xáng”, “người Hậu Giang” - “Miền Hậu Giang”? Từ con đường lúa gạo, tạo nên những giá trị mới, hình thành
“Con đường văn hoá văn minh kinh xáng” cho đến nay, vẫn in đậm trong ký ức bao người; cũng như vẫn còn đó trong cuộc sống hiện đại.
Trong chiến tranh - kinh xáng Xà No trở thành “con đường quân sự” của cả hai phía: ta và địch!
Năm 1952, quân dân Vị Thanh - Hoả Lựu đánh chìm một tàu mặt dựng của quân Pháp, diệt 400 tên giặc. Điền Tây Ông Kho cũng từng bị ta đánh chiếm. Sang thời chống Mỹ, quân giải phóng từng đánh diệt chi khu Một Ngàn, chiến dịch “Xà No dậy sóng” tạo nên nhiều chiến công. Đầu thời kỳ chống Mỹ, chế độ Ngô Đình Diệm đã lập khu trù mật Vị Thanh - Hoả Lựu, đầu tư nạo vét kinh xáng Xà No. Sau đó, lập nên tỉnh Chương Thiện, cùng chi khu quân sự Đức Long, chi khu Một Ngàn bên bờ xáng Xà No để án ngữ các lực lượng cách mạng từ phía U Minh (Rạch Giá). Cũng từ dòng kinh xáng Xà No, các lực lượng quân ta với hàng trăm tàu, ghe đã tiến quân về giải phóng thị xã Cần Thơ trong ngày 30-4-1975.
Sau ngày giải phóng miền Nam, mọi đi lại giao dịch đều bằng đường thủy. “Con đường lúa gạo” tiếp tục phát huy; hàng tiêu dùng thiết yếu đưa về theo kinh xáng Xà No, cung ứng cho nhu cầu nông thôn. Các thị trấn, thị tứ dọc theo kinh xáng Xà No, mua bán nhộn nhịp cùng với hàng ngàn tàu, ghe thương hồ. Từ thị xã Vị Thanh đến khu vực chợ Bảy Ngàn, chợ Một Ngàn, chợ Vàm Xáng, chợ Cái Răng…các nhà máy, chành lúa luôn hoạt động sôi nổi. Lúa gạo là hàng hóa chủ lực lưu thông trên thị trường. Kinh xáng Xà No mang lại thật là to lớn, nhất là việc hình thành “con đường lúa gạo” miền Hậu Giang, tạo đòn bẩy mạnh mẽ góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội miền Hậu Giang, cũng như Tiểu vùng Tây sông Hậu.
Ngày nay, vị thế của kinh xáng Xà No càng được khẳng định, bởi sự gắn kết với nhiều dự án công trình phát triển Tiểu vùng Tây sông Hậu và bán đảo Cà Mau. Tất cả cho thấy một cách rõ nét:
tính tất yếu về vai trò quan trọng của kinh xáng Xà No trong quá trình hình thành và phát triển miền Hậu Giang - Tiểu vùng Tây sông Hậu. Vị trí được khẳng định, vị thế kinh xáng Xà No ngày càng nâng lên. Có người gọi kinh xáng Xà No là “đường thuỷ chiến lược” là “ quốc lộ trên sông” – nhưng trên hết, kinh xáng Xà No là “Con đường lúa gạo miền Hậu Giang”. Hiện nay, ở ĐBSCL xuất hiện nhiều “Con đường lúa gạo mới”, nhiều “Trung tâm lúa gạo khác”- thế nhưng, kinh xáng Xà No- vẫn là “Con đường lúa gạo” huyết mạnh của Tiểu vùng Tây sông Hậu. Hàng trăm ngàn ha đất trồng lúa ở đây đang phát huy sản xuất, từng bước hướng đến nền nông nghiệp công nghệ cao; cũng như hàng triệu cư dân trong vùng sống gắn bó với dòng kinh trăm tuổi này.
Trong khuôn khổ Festival lúa gạo Hậu Giang lần thứ I, chúng tôi rất mong, tại hội thảo “Kinh xáng Xà No - con đường lúa gạo miền Hậu giang”, sẽ có nhiều tham luận từ các nhà nghiên cứu, quản lý góp thêm trí tuệ, làm sáng tỏ các vấn đề; khẳng định vị trí; vị thế và vai trò quan trọng của kinh xáng Xà No - “con đường lúa gạo miền Hậu Giang” xưa và Tiểu vùng Tây sông Hậu hôm nay. Đồng thời, Ban Tổ chức cũng rất mong đón nhận những khuyến nghị của đại biểu để tiếp tục phát triển kinh xáng Xà No một cách bền vững với nhiều hướng đi mới; để từ kinh xáng Xà No - Tiểu vùng Tây sông Hậu hôm nay sẽ có những bước đột phá, vươn lên một cách tòan diện./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Gia Định Thành Thông Chí, Trịnh Hoài Đức, NXB Giáo dục (1988).
- Tìm hiểu Đất Hậu Giang, Sơn Nam, NXB Phù Sa (1959).
- Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Sơn Nam, NXB Văn nghệ (1994).
- Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang, Nguyễn Văn Hầu, NXB Trẻ (2006).
- Nam Bộ xưa và nay, NXB TP. Hồ Chí Minh và Tạp chí Xưa và nay (1999).
- Số liệu kinh tế - xã hội ĐBSCL 2000-2004, Cục Thống kê TP. Cần Thơ (2005).
- Cái Răng hình thành và phát triển, Nhâm Hùng, NXB Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh (2007).
- Lịch sử Đảng bộ huyện Châu Thành – Cần Thơ (1999)