I. VÀI NÉT VỀ GIỐNG LÚA HẬU GIANG 2
1. Nguồn gốc
Hậu Giang 2 là giống do bộ môn Di truyền giống Viện lúa ĐBSCL lai tạo từ giống C51 lai với giống Jasmine 85. Nghiên cứu đăng ký nhãn hiệu hàng hóa giống lúa HG 2 là đề tài cấp tỉnh đang được tiến hành do PGS-TS Nguyễn Thị Lang, Trưởng Bộ môn Di truyền giống - Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long làm chủ nhiệm.
2. Đặc tính nông học và năng suất
Giống lúa Hậu Giang 2 còn gọi là OM6161 có nguồn gốc từ tổ hợp lai C51/Lasmine 85// C51. Dòng lúa C51 có nguồn gốc từ IRRI có năng suất cao, ổn định, kháng rầy, chống chịu bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá. Giống lúa Jasmine 85 năng suất cao, gạo dẻo, thơm nhẹ. OM6161 được bắt đầu lai truyền giống từ năm 2004, nó kết hợp các đặc tính quý của cây cha mẹ, thông qua MAS chọn lọc con lai BC2F2 chính xác và rút ngắn thời gian chọn lọc con lai. Dùng marker RM42, RM223 để chọn lọc tính trạng amylose và mùi thơm. Giống lúa HG2 được chọn giống nhờ thời gian sinh trưởng 95 -100 ngày, thân rạ cứng, cây cao 105-110cm, đẻ nhánh khỏe, số bông/khóm 12-14 bông, lượng 1000 hạt 27.3g, amylose 22.9-26.1%, dài hạt 7.08mm, dài/rộng 3.3, năng suất trung bình Đông Xuân: 6 -7 tấn/ha; Hè thu: 5 – 6.5 tấn/ha. Trên một số vùng đất có độ phì nhiêu thì số hạt chắc trên bông cũng đạt tới 105.5 hạt. Tỷ lệ hạt lép trong vụ Đông Xuân khoảng 18.2%. Trọng lượng 1000 hạt 29.2 gr. Qua các vụ sản xuất tại một số điểm thuộc ĐBSCL và khảo nghiệm ở Đông Nam Bộ thì giống HG2 tỏ ra thích hợp với điều kiện thâm canh ở các vùng như Hậu Giang, Cần Thơ…và các vùng đất thâm canh hoặc các vùng đất bị nhiễm phèn.
3. Phẩm chất và phản ứng đối với sâu bệnh
Giống lúa HG2 thuộc nhóm có phẩm chất tốt. Tỷ lệ gạo lức 78,96%. Tỷ lệ gạo trắng 68,34% và tỷ lệ gạo nguyên 50,92%. Chiều dài hạt 7.10mm. Dài/rộng 3.40. Độ bạc bụng cấp 1. Độ trở hồ 3 – 5. Độ bền gel 69.50mm thuộc nhóm ngắn. Hàm lượng amylose 22.951%. Phản ứng sâu bệnh cho thấy giống lúa HG2 có khả năng kháng được bệnh đạo ôn cấp 3 và kháng trung bình đối với rầy nâu cấp 3.
II. QUY TRÌNH CANH TÁC
Đây là quy trình canh tác có áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và phẩm chất gạo.
1. Chuẩn bị hạt giống
Hạt giống tác giả phải được sản xuất từ giống gốc và phải đạt tiêu chuẩn chất lượng do Nhà nước ban hành. Hạt tác giả là nguồn cung cấp để nhân hạt giống cấp Siêu nguyên chủng.
Chọn giống và xử lý hạt giống: Sau khi chọn lọc hạt giống kỹ từ vụ mùa năm trước (đã loại bỏ tạp chất, giống khác, hạt lép, lừng…), đem ngâm, ủ để hạt giống nảy mầm để chuẩn bị gieo mạ.
2. Ruộng mạ
Gieo mạ: Diện tích gieo mạ để cấy cho 1 ha là 1.000 m2, lượng giống từ 7-10 kg. Đất gieo mạ được chuẩn bị rất kỹ: Tơi xốp, bằng phẳng, có rãnh thoát nước, lượng nước xâm xấp mặt ruộng. Đối với HG2 có thể gieo trồng trong cả hai vụ:
- Đông Xuân: Gieo mạ vào tháng 10 tháng 11 thì cấy vào 30/11 đến cuối tháng 2 thu hoạch (thời gian sinh trưởng 95-100 ngày)
- Hè thu: Tùy theo thời tiết hàng năm mà có thể gieo mạ vào đầu tháng 7 cho đến đầu tháng 8. Trước khi nhổ mạ 3-5 ngày bón phân tiễn chân mạ 3-4 kg Urê/1000m2 để dễ nhổ mạ và cây lúa mau ra rễ.
Tuy nhiên trong quá trình gieo mạ có một số điều cần chú ý:
- Cần chọn ruộng mạ có độ phì đất màu mỡ, chủ động tưới tiêu nước và phòng chống được các điều kiện bất thuận lợi. Tốt nhất là trên nền đất mà vụ trước không cấy lúa.
- Diện tích đất gieo mạ bằng khoảng 1/5-1/25 diện tích ruộng cấy.
- Kiểm tra ruộng mạ để khử các cây khác dạng, bằng cách quan sát màu gốc mạ.
- Chăm sóc mạ như bón phân, phòng trừ sâu bệnh để mạ phát triển, đảm bảo không thiếu mạ cấy.
3. Ruộng cấy
Chọn khu ruộng có độ màu mỡ khá, mặt ruộng bằng phẳng, chủ động tưới tiêu, dễ bảo vệ và phòng chống các điều kiện bất thuận, ruộng có thể chia thành ô có cách ly hoặc dải bảo vệ (cách ly với giống khác ít nhất là 3m hoặc bố trí thời gian trổ lệch ít nhất là 10 ngày)
Đất cấy có thể được trục trước khi cấy từ 15-20 ngày, bón lót 60kg DAP và 40 kg Kali/ha trước cấy 1 ngày. Mạ có thể cấy ngay sau khi nhổ hoặc nhổ trước khi cấy 1 ngày. Khoảng cách cấy là 20 x 20 cm, số tép mạ cấy là 1 tép/bụi, độ sâu cấy 1,5-2 cm. Điều chỉnh lượng nước trên ruộng là 5-10 cm.
Nhổ mạ xong là cấy ngay trong ngày, không làm mạ bị giập nát, rễ mạ bị ảnh hưởng do nắng nóng hoặc khô nắng.
4. Các biện pháp kỹ thuật canh tác
Phân bón có thể sử dụng công thức phân 80:60:40 kg NPK/ha cho vụ Đông Xuân và 100:60:40 kg NPK cho vụ Hè Thu. Có thể chia làm nhiều lần bón (3 lần) và bón phân sớm cho lúa để lúa đẻ nhánh mạnh và tập trung, hệ thống rễ ăn sâu, bền lá. Đón và rước đòng cho lúa bằng phân urê, lượng phân sử dụng khoảng 30-50 kg/ha, có thể phun Nitrat kali trước trổ và sau khi trổ đều.
Các biện pháp khác như giữ mực nước trong ruộng, quản lý cỏ dại, phòng trừ sâu bệnh, áp dụng như ruộng sản xuất bình thường cùng loại giống và phù hợp với sản xuất đại trà trong vùng.
- Thường xuyên quan sát khử lẫn các cây khác dạng và màu sắc của thân lá, thìa lìa mỗi tuần từ sau khi cấy đến trước trổ.
- Sau khi khử lẫn lần cuối và trước khi thu hoạch cần báo cáo với bộ phận kiểm định để kiểm định và lập biên bản kiểm định ruộng lúa ngoài đồng.
5. Chăm sóc
Lúa HG 2 sau khi cấy 20 ngày nên sụt bùn để cho rễ thoáng khí, đẻ nhánh nhiều.
Ruộng lúa cần được khử lẫn trong suốt quá trình sinh trưởng của cây lúa để đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng ổn định bằng cách: Làm sạch cỏ dại, nhổ bỏ các cây bị sâu bệnh, nhổ bỏ cây khác giống.
6. Thu hoạch và bảo quản
Thu hoạch, bảo quản, chế biến: Khi hạt chín trên 90% thì tiến hành thu hoạch. Các công cụ trong thu hoạch, bảo quản, chế biến phải được vệ sinh thật kỹ để tránh tối đa mọi sự lẫn giống có thể xảy ra.
Nên suốt lúa với tốc độ vừa phải để không làm hạt lúa bị nứt, bể. Phơi hoặc sấy ngay sau thu hoạch để lúa giữ được màu sáng đẹp và đảm bảo chất lượng gạo. Phơi khoảng ba nắng để đạt thủy phần 14,5%. Quạt thật sạch, loại tạp chất và đóng bao bảo quản nơi thoáng mát và khô ráo./.
Ái Phương.
Nguồn:
- Đề tài: Nghiên cứu đăng ký nhãn hiệu hàng hóa giống lúa Hậu Giang 2 cho tỉnh Hậu Giang
- Sở NN&PTNT.